BỨC CHÂN DUNG MẸ VIỆT NAM và một " Tuyệt bút giai ... thơ" của Đặng Hồng Thiệp.

By Nguyễn Anh Tuấn

Hiện thân của sự cao cả với quyền năng thánh thiện bao dung hình tượng " Mẹ " luôn thường trực vị trí tối ưu trong tâm thế cộng đồng và cá thể của mọi loại hình xã hội nhân loại. Bởi " Mẹ" luôn là cội nguồn của tình cảm thiêng liêng của cả Tôn giáo - Triết học và Thơ ca - Âm nhạc - Hội hoạ . Sợi vô hình mà nhất quán nối những tường tâm thức nơi và khi . Tạo nên những đồng vọng giữ kiệt tác " La jeconde " của danh hoạ L. Devinci với thánh ca " Ave Maria " của thiên tài âm nhạc F. SuBe . Tạo mối liên hệ hữu cơ giữa tiểu thuyết " Người Mẹ " của M. Gorki với bài thơ " Mẹ Suốt " của Tố Hữu...v.v. Hình ảnh phổ quát và đặc trưng này vừa là đối tượng trữ tình lại vừa là phương tiện trữ tình của chủ thể nó luôn đem lại hiệu ứng nghệ thuật tối ưu cho tác phẩm.

Từ khá lâu rồi trong thơ Việt hình ảnh phổ quát này tưởng chừng vãn bóng. Thì mới toanh trên văn học mạng intenet ngày Xô viết Nghệ Tĩnh 12- 9 nhà thơ Đặng Hồng Thiệp đã công bố một bài thơ đẹp về " Mẹ":

           MẸ

Nắng vẫn nung khô khát

Cây mang ẩm đâm chồi

Mẹ vắt kiệt mồ hôi

Làm trôi ngày tháng chật.

Lòng mẹ hoá mầm đá

Mặc sóng gió bao đời

Lớn khôn con sẽ hiểu

Trời xanh trong mắt người .

Nguồn dẫn: ngoisaoblog.vn danghongthiep

Giản dị tường minh mà thâm trầm sâu lắng . Ngôn từ giàu hình tượng và lung linh trong sáng. Hình ảnh " Mẹ " qua bài thơ ngũ ngôn súc tích này đã hiển hiện sống động với những quen thuộc mà cũng rất mới rất Việt nam.Mẹ đã hiện hình là Mẹ - nhiệt - đới của miền địa lí " nắng ... nung" " ẩm" "chật". Mẹ của những đặc thù tự nhiên tạo nên nhân cách sống đặc thù với trang bị bằng những động từ đậm tính quyết liệt : " đâm chồi " vắt kiệt " " làm trôi "... Và " Mẹ " đã hiện thân cho sức sống - Một sức sống hữu thể và sức sống vô song. Vừa là hình tượng lại vừa là biểu tượng cho sức sống muôn người và muôn đời - Những sức sống tự nhiên mang bóng dáng xã hội. Bằng các động từ mạnh Đặng Hồng Thiệp đã mô tả được nét thần thái của hình tượng trữ tình và " Mẹ " đã hiện hình trong các chuyển động với nỗ lực sống mạnh mẽ đầy tính " cương..." . Nhưng trái với hiện hình cương thì hình tượng lại được nhu hoá khi hiển linh . Một sức sống tâm hồn khi hiện khi ẩn mà vẫn luôn tiềm tàng sau những tầng văn hoá và lịch sử dân tộc sâu khuất trong trường thời gian cao xa trong trường không gian:

Lòng mẹ hoá mầm đá

Mặc sóng gió bao đời

Lớn khôn con sẽ hiểu

Trời xanh trong mắt người .

Tác giả đã lột tả thành công nét hiển linh của hình tượng làm nên linh hồn của sức sống: " mầm đá " " mặc " " bao đời " lớn khôn" là những từ chỉ thời gian dài và chỉ quá trình thẩm thấu hay tri giác đòi hỏi những phẩm hạnh : lòng kiên nhẫn ý chí kiên định...v.v. Sự hiển linh của hình tượng "Mẹ" với tình cảm biến ảo và bằng tri thức tụ vầng soi sáng :" Trời xanh trong mắt người " - hình ảnh đẹp và thanh khiết . Câu thơ " thần cú " này đã như vầng hào quang toát lên vẻ đẹp thiêng của hình tượng và làm nó lung linh.

Bài thơ đã hiện hình một chân dung Mẹ Việt Nam đẹp và có hồn - Một bức tranh giàu mĩ cảm . Nó gợi tình cảm thiêng và gợi liên tưởng sáng. Đây là bức tranh bằng Tiếng Việt với màu sắc ngôn ngữ và tư tưởng nghệ thuật rất Đặng Hồng Thiệp . Tôi quả quyết rằng : Bài thơ " Mẹ " là một " Tuyệt bút giai... thơ " của họ Đặng.

Hà nội trung thu

2010 Nguyễn Anh Tuấn

More...

Đêm Hồ Gươm.

By Nguyễn Anh Tuấn

Đêm Hồ Gươm

Nghiêng nghe phai lá thu cao

Trầm ngâm dáng núi neo vào hư vô

Gươm thiêng trăng biếc đáy hồ

Soi lên Tháp Bút câu thơ hiện hình .

Hà Nội- 02/09/2010. 

More...

Bầu trời cho con Việt.

By Nguyễn Anh Tuấn

Mẹ chắp cánh ước mơ

Cha đúc rèn ngựa sắt.

Hạnh phúc và tự do

Bầu trời con: - Phía trước.

*****

Nền sáng trong Tiếng Việt

Vầng từ lộng lẫy cao

Con gieo thơ cấy nhạc

Vì Tổ Quốc- Đồng bào.

More...

Giấc mơ.

By Nguyễn Anh Tuấn

Lên giây cót tâm hồn

Mơ đêm hoa hồng rực rỡ tiếng chim

 

Hết thảy nụ hôn

Nâng giấc quê hương hình quả khế

 

Một ngày giấc mơ đã ghé môi tôi

Thanh khiết cả nét cười. 

More...

TẢN MẠN TRƯỚC MÙA GIẢI HỒ XUÂN HƯƠNG CHO THƠ CA XỨ NGHỆ.

By Nguyễn Anh Tuấn

Hậu cuộc thi thơ 2008- 2010 ở xứ Nghệ vừa qua bài phê bình về một tác phẩm thơ hay mà " chỉ đoạt giải khuyến khích " đăng trên tạp chí nhà văn Việt nam ( tapchinhavan.vn ngày 06- 07 - 2010 ) của tác giả Lê Thu Giang đã châm ngòi cho nhiều cuộc nhã đàm từ Hà Nội đến Vinh. Giới sáng tác và phê bình thơ ca đã nhiều người lắc đầu ngao ngán vì chất lượng giám khảo của cuộc thi này đã quá mức "hạn chế". Một nữ nhà thơ nổi danh trên chiếu làng đã chua ngọt rằng: " Trình độ thẩm thơ của Nghệ an thì cũng chỉ có thể đến mức ấy thôi !" . Tìm hiểu qua nhiều công dân thơ có hạng ở xứ "ông đồ cá gỗ" được biết: Hội văn học nghệ thuật ( VHNT) Nghệ an và tạp chí Sông Lam (của họ) đã thiếu sáng suốt trong việc lựa chọn giám khảo - Chẳng có vị "quan toà" nào có chút chuyên môn " Thơ học" cả. Đành rằng người không có chuyên môn " thơ học " cũng có thể sáng tác được thơ. Nhưng như thế không có nghĩa là họ cũng đủ năng lực chuyên môn để thẩm và đánh giá được thơ của các bậc có học. Âu vì "trình độ chỉ đến thế thôi" nên ban tổ chức cuộc thi đã "lập trình " cho họ thành giám khảo? Thử tưởng tượng họ đã "thổi còi" như thế nào với con mắt toán số và bằng chuyên môn toán học mà thiếu tầm tri thức về văn hoá thơ ca? Chưa nói rằng từ xưa cha ông mình thường có câu " văn mình vợ người ". Các vị quan toà bất đắc dĩ này có hoàn toàn công tâm với các bài thơ dự thi không hề được rọc phách? Bởi thế ngay từ hôm bế mạc giải đến nay ở tất cả các cuộc cà phê sáng nhiều tác giả thơ có tên tuổi đã quá nhiều phàn nàn. Họ cũng ăn năn với sai lầm của họ là đã tham gia dự thi khi không biết trước các bậc " thần chết" của các đứa con mình lại gồm những người thấp tầm đến vậy. Một tác giả nữ là giáo sư văn chương của một trường học danh giá ở xứ Nghệ đất học đã chua chát trước đồng sự của mình rằng :" Việc chấm giải và chia chác tiền thưởng là việc đã chủ ý bày đặt sẵn của một số người trong lãnh đạo hội. Giải nào cho ai thì đã được định sẵn với kiểu ứng xử theo luật giang hồ với nhau ..." Có thi sĩ thì đã nói toạc móng heo rằng : " Chạy giải mua bán giải ... từ lâu nay đã là một tiền lệ bất khả biến ở chốn thi đàn . Nên không phải là bài thơ nào đạt giải cao cũng đều là bài thơ hay cả đâu" . Vậy ra ở phiên chợ văn chương nơi này mọi thứ thơ ca hàng hoá đều đã được gắn một mệnh giá khống chỉ người mua kẻ bán đều phải tuân thủ theo quy chế thoả thuận ngầm ? Và như thế tác phẩm đạt giải cao lại đa phần là thư thơ có chất lượng "hạn chế" hoặc "phế phẩm" âu rằng cũng là một tất yếu khách quan ? Thử thấu suốt bằng lương tri bác sĩ và dao kéo với chứng bệnh nan y này thì sẽ thấy : Cuộc thi thơ với những màn bi hài nêu trên mới chỉ là tiền đề cho một cuộc tổng duyệt xét giải thưởng lớn sắp tới đây . Đó sẽ là cuộc chạy đua ma-ra-tông về phía giải thưởng Hồ Xuân Hương giành cho VHNT - Giải thưởng mà đảng bộ và chính quyền Nghệ an đặt ra với mục đích khuyến khích sáng tác để địa phương quê Bác sẽ có được các tác phẩm văn chương có giá trị . Một thành viên là lãnh đạo hội VHNT Nghệ an đã tiết lộ với chúng tôi rằng :" Ban giám khảo của thơ ca lần này cũng sẽ toàn là những vị chỉ có chuyên môn toán học . Kết quả chấm với tác giả nào sẽ được giải gì cũng đã được họ " khoai lắp vào ấm " cả rôì đấy! Còn "thú vị bất ngờ hơn là các thành viên giám khảo cũng đều có tác phẩm dự thi và vậy thì tác phẩm của họ sẽ được họ chấm giải cao là tất yếu."

Kì lạ thay ! Cũng chỉ ở xứ Nghệ mới buồn cười với quy chế giám khảo vừa đá bóng lại vừa thổi còi ? Chúng tôi biết rằng : Đảng và nhà nước ta đang hết sức cố gắng để mỗi ngày một chuyên môn hoá cao hơn trong mọi việc mọi nghành nghề mọi lĩnh vực... Ví dụ : Anh chạy xe ôm cũng phải trải qua thi sát hạch và được cấp gấy phép thì mới được hành nghề ông nông dân cũng phải được đào tạo phải thi lấy bậc thợ cày thì mới được cày ruộng...vv. Vậy để các cuộc thi thơ ở Nghệ An có thể tìm ra tác phẩm thơ hay thực sự ban tổ chức nên tổ chức bầu chọn ra một ban giám khảo thật nên hồn với tầm chuyên môn có bảo hành . Những giám khảo ấy không nhất thiết phải là nhà thơ và là thành viên ban thơ của cơ quan hội VHNT tỉnh. Họ có thể thuộc ban lí luận phê bình hoặc thuộc đội ngũ giảng viên đại học hoặc phổ thông nhưng có chuyên môn " thơ học " hẳn hoi.

Sẽ rất đáng để quan ngại khi Nghệ an đã quá kì vọng với những tác phẩm văn chương có giá trị tư tưởng nghệ thuật cao để rồi lại chỉ tìm được toàn những tác phẩm "hạn chế". Chắc rằng sắp tới đây lãnh đạo Nghệ an sẽ chú trọng giám sát việc tổ chức chấm tác phẩm gắn với việc xét thành tích tên tuổi giải thưởng của Trung ương...mà tác giả đã giành được về cho tỉnh mình để trao thưởng đúng và xứng đáng. Như thế thì sẽ không còn tồn tại những tiêu cực văn chương và yếu tố phi văn học sẽ không xâm phạm được uy tín của văn chương đích thực. .. Và giải thưởng Hồ Xuân Hương danh giá sẽ được tôn vinh giữ gìn để phát huy hơn giá trị chân chính của nó./.

    (TB: Vi lí do tế nhị nên những nhân vật được nhắc đến trong bài Viết xin phép được dấu tên)                                                                        Hà nội đầu thu 2010

                                                Nguyễn Tiến

More...

Tình khúc tháng giêng.

By Nguyễn Anh Tuấn

Mây thơm vương những nhiệm màu

Cắm cờ chói lọi đỉnh sâu cuộc tình.

Sông về tóc chảy bình minh

Thuyền đi thắp thắm dáng hình câu thơ... 

More...

VIẾT CHO MỘT BLOGER

By Nguyễn Anh Tuấn

VIẾT CHO MỘT BLOGER

Published on 10/21 2009


Những tiếng khóc từ lỗ mũi

Chảy những chiếc lông

Đặc màu bóng tối.



Nước mắt mọc rễ vào nhau xâu chuỗi hạt ngôn từ

Nguyện trước bình minh bằng lời yêu méo mó

Nơi nỗi buồn được vùi chôn bằng những tảng mây chì

Mọc lên những cơn mưa óng ả.


  
Viết 2009 
   ngoisaoblog.vngiainhan
   giainhan.vnweblogs.com
  " Ánh sáng lời " - Thơ - Nguyễn Anh Tuấn



More...

"CHÂN TRỜI" NGÔN NGỮ THƠ CỦA ĐẶNG HỒNG THIỆP ( NXB VĂN HỌC 2006)

By Nguyễn Anh Tuấn


"Cân trời" - thơ của Đặng Hồng Thiệp (NXB Văn học 2006)
08:19 | 15/11/2006
"Em cười trong mắt mộng mơ/ Lúa thời con gái níu bờ xanh trôi"...
(ĐCSVN)- 50 bài thơ với nhiều câu xinh xắn thơm dòn như hoa đồng nội. Câu lục bát cứ lôi cuốn lay thức những sợi dây xúc cảm. Đây hẳn là ý nghĩa đời sống thiết thực của thơ được thoát thai từ tập thơ "chân trời" mà nhà thơ Đặng Hồng Thiệp vừa xuất bản.
50 bài thơ trong tập "chân trời"được viết với chủ đề: Nhân tình thế thái và địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam với một không gian nghệ thuật sống động và giàu nội dung tư tưởng. Với tôi và nhiều độc giả cùng "gu" đọc thơ với "ẩm tửu" - "thưởng trà" - ngắm trăng và phụ nữ ... lại thấy thích "Chân trời" với nhiều tứ thơ tròn trịa và nhiều câu chữ có cánh "Thôi ta làm cỏ dại/ nắng mưa xối tơi bời/ giấc mơ chạm trời" Không đao to búa lớn nhẹ nhàng thanh thoát mà không kém phần mãnh liệt "Bật nỗi mầm xanh biếc". Hình tượng thơ là hiện thân sức sống của một tâm hồn khoẻ khoắn. Ngôn ngữ như kích cỡ của Đặng Hồng Thiệp không là thứ võ ngữ âm trống rỗng và loãng nhạt mà là thứ nhựa sống đã được tinh đặc với sức biểu cảm gần như tuyệt đối: "Cụng nhau nỗi khát/ Tứa máu thân mành/ Nụ cười kiêu bạc/ Kiếp người lênh đênh" (Thân phận - ĐHT). Ngôn ngữ như thế thì không cần đến sự hiểu sự lý giải nào nữa. Cứ chỉ đọc lên nghe đã thấy "sướng". Và chính nhu cầu thẩm mỹ ngôn ngữ này mới là con đường rộng mở để độc giả ngày nay còn tìm đến với thơ. Cũng bởi lý do này mà giới làm thơ phải khó nhọc dùi mài khỗ luyện ngôn ngữ thơ của mình. Thành công của Đặng Hồng Thiệp qua tập thơ "chân trời" là đã khổ luyện và tinh chế được một ngữ hệ thơ riêng mình với nhiều tứ hay câu đẹp như: "Sao không vơi ngậm ngùi/ Đêm lừng hương chạm mặt" (Sao em không - ĐHT) hoặc "Cây mở tán và hoa không lỗi/ quả lên hương mở nắng bao la" (Trăng 20 - ĐHT) và ....v..v....Đặng Hồng Thiệp biết thả lỏng ngôn ngữ trong một hệ cấu trúc rời rạc để tự bản thân những sự rời rạc ấy cộng hưởng nên một chỉnh thể hoàn thiện và gợi cảm.
By: Anh Nguyễn - Ngô Hiền

website Dangconsan.vn  ngày 15 - 11 - 2006

More...

ÁNH SÁNG LỜI

By Nguyễn Anh Tuấn






Hoa quỳnh run mở nhụy

Nắm tay run mở những ngón

Bướm non run bay

Và em run nụ đầu dâng hiến.



Ở những khoảnh khắc mong manh mầu nhiệm này

Các thiên sứ sẽ hiện

Bằng trái tim chở ánh sáng lời

Soi lộng lẫy các linh hồn cái đẹp.




    Viết 2009
    ngoisaoblog.vngiainhan
   giainhan.vnweblogs.com
   " Ánh sáng lời "- Thơ - Nguyễn Anh Tuấn

More...

Nền văn chương đang lâm nguy (La Littérature en péril)

By Nguyễn Anh Tuấn

Nền văn chương đang lâm nguy (La Littérature en péril) Tzvetan Todorov Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp

Lời người dịch:
 Nền văn chương đang lâm nguy của Tzvetan Todorov- nhà triết học mỹ học và nhà lý luận văn học nổi tiếng ở Pháp đã đề cập đến nhiều phương diện quan trọng của văn học: Chức năng văn học (Văn học có thể làm gì được?) những “lâm nguy” của văn chương hiện nay ở Pháp mỹ học trong văn học ... Và dù đề cập đến vấn đề gì ý nghĩa toát lên của công trình đó là: chống lại những nguyên nhân đang lôi kéo văn chương vào sự phi lý. Những vấn đề mà Tzvetan Todorov đặt ra trong công trình này đã đưa đến một ý nghĩa nghiệm sinh rằng: ý nghĩa đích thực của tác phẩm đó chính là “niềm khoái lạc” cao nhất mà chúng ta đạt đến chứ không phải chỉ là thủ pháp nghệ thuật trong văn bản. (Khoái lạc này cần được hiểu từ góc độ mỹ học của văn học - từ ý nghĩa tối thượng của chức năng văn học - ND).Trong Nền văn chương đang lâm nguy Todorov đã dành một phần quan trọng để bàn về Mỹ học. Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc phần “Sự ra đời của mỹ học hiện đại” (Naissance de l’esthétique moderne) và Mỹ học thời kỳ ánh sáng (L’esthétique des Lumière).Bằng việc đưa ra khái niệm: thế tục hóa tôn giáo (sécularisation) và thiêng liêng hóa nghệ thuật (sacralisation) T. Todorov đã chỉ ra “Cái đẹp tối thượng” của nghệ thuật cũng như những chuyển biến trong quan điểm mỹ học từ thời cổ đại đến hiện đại: “Lúc ấy nghệ thuật hoá thân thành sự tự do (liberté) quyền tối cao (souveraineté) sự tự tại (autosuffisance) sự siêu việt (transcendance) của người sáng tạo so với thế giới”. Tác giả cũng đã có những lý giải thú vị và xác đáng về quan điểm nghệ thuật của các nhà mỹ học nổi tiếng như: Platon Aristote Horace Boileau Shaftesbury và Hutcheson Lessing Baumgarten...

 SỰ RA ĐỜI CỦA MỸ HỌC HIỆN ĐẠI (Naissance de l’esthétique moderne)

Một luận đề cho rằng: văn học không liên quan gì về mặt ý nghĩa với cuộc sống và theo đó việc đánh giá văn học cũng không cần lưu tâm đến tác phẩm nói gì về cuộc đời. Luận đề này không phải do các giáo sư văn học thời nay bày ra cũng không phải là một đóng góp đặc biệt của thuyết cấu trúc. Quan điểm đánh giá đó có một chiều dài lịch sử rất phức tạp song song với sự thịnh hành của xã hội hiện đại. Để hiểu thêm và khách quan hơn tôi muốn trình bày sơ qua những giai đoạn chính của sự hình thành đó. Để bắt đầu cần phải nói ngay rằng trong cái mà người ta gọi rất chính xác là lý thuyết cổ điển về thơ ca (la théorie classique de la poésie) đó chính là mối liên hệ với thế giới bên ngoài được khẳng định rất chắc chắn. Người ta nhớ và nhắc lại đến nhàm tai một vài cách diễn tả của các tác giả cổ điển ngay cả khi người ta đã đánh mất đi ý nghĩa của tác phẩm. Chẳng hạn theo Aristote thì thơ ca là bắt chước (imiter) tự nhiên còn theo Horace thì thi ca có sứ mệnh làm cho độc giả vui thích (plaire) và để dạy đời (instruire). Mối liên hệ với thế giới bên ngoài có một vị trí quan trọng đối với tác giả - người thấu triệt những gì xảy ra của thế giới ấy và vì thế mới có thể “bắt chước” được; cũng như đối với độc giả thính giả để có thể tìm thấy được niềm vui thú và rút ra từ đó bài học cho chính cuộc sống của họ. Ở châu Âu vào những thế kỉ đầu Thiên chúa giáo bành trướng thi ca có nhiệm vụ trước hết là truyền bá và biểu dương một triết lý bằng cách giới thiệu một phiên bản dễ tiếp cận và ấn tượng nhưng lại kém chính xác. Đến lúc thoát ra khỏi cái triết lý nặng nề ấy thi ca lại trở về bản chất hồn nhiên của nó. Thời Phục Hưng thi ca có sứ mệnh phải Đẹp nhưng cái đẹp đó gắn liền với Chân và Thiện. Và ta cũng nhớ lại câu thơ của Boileau: “Không gì đẹp bằng chân lý và chỉ chân lý mới đáng yêu” (Rien n’est beau que le vrai le vrai seul est aimable). Hẳn người ta cũng thấy rằng những công thức ấy chưa được đầy đủ nhưng thay vì vứt đi người ta tìm cách làm cho phù hợp với hoàn cảnh.Đến thời hiện đại quan niệm trên bị lung lay bằng hai cách khác nhau mà cả hai đều do lối nhìn mới về việc thế tục hóa tôn giáo (sécularisation) và thiêng liêng hóa nghệ thuật (sacralisation) cùng xảy ra đồng thời.Cách thứ nhất lấy lại một hình ảnh xưa và khôi phục lại giá trị: nhà nghệ sĩ sáng tạo sánh với Đấng Tạo Hóa đã tạo ra những quần thể chặt chẽ và khép kín. Thượng đế của thuyết độc thần (Dieu du monothéisme) là một đấng tạo hóa vô hạn đã tạo dựng một vũ trụ hữu hạn; khi thi sĩ bắt chước Đấng Tạo Hóa anh ta giống như một vị thần tạo ra những sự vật xác định (thường là so sánh với Prométhée). Hoặc thiên tài ở trần gian (génie humaine) bắt chước Thiên Tài Tối Thượng đã tạo dựng ra thế giới chúng ta.Quan niệm bắt chước còn được giữ lại nhưng vai trò của nó không còn nằm ở giữa tác phẩm - một sản phẩm xác định với thế giới bên ngoài; bắt chước bây giờ nằm ngay trong công việc sáng tạo một bên là đại vũ trụ bên kia là tiểu vũ trụ mà không thấy trong tác phẩm bắt buộc phải có dấu vết của sự liên quan giữa hai bên. Người ta đòi hỏi rằng mỗi bên tự nó phải được sáng tạo chặt chẽ nhất quán và không đòi hỏi hai bên phải tương ứng trong kết quả.Quan niệm cho rằng tác phẩm là một tiểu vũ trụ xuất hiện trở lại vào đầu thời Phục Hưng ở Ý chẳng hạn như Hồng Y Nicolas de Cues nhà thần học đồng thời là triết gia thế kỉ XV: “Con người cũng là một Đấng tạo hóa - với tư cách là người sáng tạo ra tư tưởng và các tác phẩm nghệ thuật”. Leon Battista Alberti lý thuyết gia về nghệ thuật khẳng định rằng: người nghệ sĩ thiên tài vẽ hay khắc nên những con người sống và đã làm cho họ nổi bật lên như một vị thần linh bên cạnh những người trần. Người ta cũng nói rằng Thượng đế là người nghệ sĩ đầu tiên. Landino một đồ đệ mới của Platon thành Florence cũng khẳng định rằng: “Chúa là thi sĩ tuyệt vời và thế giới là bài thơ của Ngài” (Dieu est le poète suprême et le monde est son poème). Câu nói hình ảnh này dần dần trở nên tiếng nói chủ đạo trong nghệ thuật và dùng để ca ngợi sự sáng tạo của con người. Từ thế kỉ XVIII trở đi hình ảnh này thống lĩnh cả phê bình và sáng tạo dựa trên sự ảnh hưởng của một triết lý mới triết lý của Leibniz. Ông ta đã nghĩ ra những khái niệm “monade” (đơn tử) và “monde possible” (thế giới có thể có) và cho rằng: nhà thơ minh họa cho những phạm trù này bởi vì họ tạo ra song song với thế giới vật chất tồn tại một thế giới độc lập nhưng cũng rất nhất quán như thế giới hiện thực.Cách thứ hai là phá tan cái nhìn cổ điển: khi nói lên mục đích của thơ ca không phải là bắt chước thiên nhiên cũng không phải dạy đời và mua vui mà để tạo ra cái Đẹp. Nhưng cái Đẹp được đặc trưng bởi việc nó không tạo ra cái gì khác ngoài chính nó. Cách giải thích này về quan niệm cái Đẹp - một ý tưởng ngự trị ở thế kỉ XVIII chính là sự thế tục hóa khái niệm thần thánh (laicisation). Bằng những thuật ngữ này cuối thế kỉ thứ IV thánh Augustin mô tả sự khác nhau giữa những tình cảm mà người ta dành cho Thượng đế và cho con người: với mọi sự vật cùng mọi sinh vật chúng ta có thể sử dụng (user) để làm cho nó trở nên siêu việt nhưng chỉ với Thượng đế chúng ta phải bằng lòng với việc hưởng thụ (jouir) có nghĩa là kính mến vì Chúa.Phải nói rằng bằng cách duy trì sự phân biệt của thánh Augustin giữa khái niệm sử dụng“user” và khái niệm hưởng thụ “jouir” trong phạm trù ngoại đạo của những hoạt động đơn thuần của con người các lý thuyết gia thế kỉ thứ XVIII chỉ việc làm đảo ngược lại hành động của Augustin bằng cách thêm vào lĩnh vực tôn giáo những phạm trù của Platon.Chính Platon người đã định nghĩa về Cái thiện tối thượng (Souverain bien) là cái thiện tự nó đáp ứng được chính bản thân nó: người mang cái thiện tối thượng trong mình là có đầy đủ khả năng đáp ứng cho mình một cách hoàn thiện đến mức không cần bất cứ điều gì khác. Chính Platon đã đề ra việc suy ngẫm một cách vô tư những khái niệm và cũng chính ông là người mà 22 thế kỷ sau người ta sẽ viện dẫn để bung phá ra một quan niệm khác về cái Đẹp. Như thế nghệ thuật không còn bị quyết định bởi Thượng đế mà là tác phẩm tự khẳng định trong sự hoàn thiện của chính nó. Kết quả của những sự thay đổi này là vào thế kỉ XVII và thế kỉ XVIII sự chiêm ngưỡng về cái đẹp phán xét về sở thích ý nghĩa của cái đẹp được xác định như những thực thể tự do. Không phải con người ở những thời kì trước không nhạy cảm với vẻ đẹp của tự nhiên cũng như với vẻ đẹp của các tác phẩm nghệ thuật mà trước đó nếu không đặt trong triết lí của Platon - nơi cái đẹp hòa vào với cái chân và cái thiện thì những kinh nghiệm này chỉ là một mặt của hoạt động mà mục đích chính của nó lại ở chỗ khác. Người nông dân có thể thích công cụ đồng áng của mình nhưng trước hết công cụ đó phải hữu ích. Giới quý tộc đánh giá cao những hình trang trí trong cung điện của mình nhưng với điều kiện chúng phải thể hiện đẳng cấp của họ trong mắt những vị khách. Người tín đồ Tôn giáo say mê âm nhạc mà họ nghe được ở nhà thờ là vì những hình ảnh mà họ thấy được ở đó; nhưng sự hài hòa của âm nhạc cũng như những hình ảnh mà nó trưng bày đều phải nhằm để củng cố đức tin. Nhận biết tầm quan trọng của thẩm mĩ trong mọi hoạt động và trong việc sáng tạo là một đặc điểm của một người toàn năng (humain universel).Một tinh thần mới nổi lên ở châu Âu vào thế kỉ XVIII sẽ là sự tách biệt cái không gian của vô số các hoạt động và rồi sẽ kiến tạo nó thành sự hóa thân của một thái độ duy nhất: việc chiêm ngưỡng cái đẹp. Thái độ này càng được yêu thích khi nó mang những thuộc tính của lòng yêu kính đối với Chúa. Chính vì thế người ta yêu cầu người nghệ sỹ sáng tạo ra những tác phẩm chỉ dành cho Chúa. Quan niệm mới này đã được phác thảo trong những bài viết của Shaftesbury và Hutcheson ở Anh. Nó cũng đã dẫn đến sự ra đời của khái niệm Mỹ học (Esthétique) trích nguyên văn là “Khoa học của tri giác” (Science de la perception) vào năm 1750 trong một quyển sách mà Alexander Baumgarten đã dùng để chỉ môn học mới này.Tính chất đổi mới trong cách tiếp cận này dẫn tới việc bỏ qua quan điểm của người sáng tạo (perspective du créateur) để chấp nhận quan điểm của người tiếp nhận (perspective du récepteur) - người mà mối quan tâm duy nhất đối với họ là chiêm ngưỡng cái đẹp. Sự thay đổi này đã dẫn đến nhiều hậu quả. Hậu quả thứ nhất nó tách rời nghệ thuật ra khỏi các hoạt động và nghệ thuật trở nên tuyệt đối. Ngày nay hoạt động này bị đưa xuống một lĩnh vực hoàn toàn khác biệt: ngành thủ công hoặc ngành kỹ thuật. Nhìn từ quan điểm sáng tạo hay sản xuất người nghệ sĩ chỉ là một nghệ nhân chất lượng cao: cả hai đều hành một nghề với ít nhiều tài năng. Nhưng nếu chúng ta đem sản phẩm của họ đặt cạnh nhau thì người nghệ nhân đối lập với nghệ sĩ: một người sáng tạo ra sản phẩm vị lợi người kia để ngắm nhìn chỉ vì sở thích cái đẹp; một người tuân theo tiêu chuẩn về lợi ích người kia làm việc một cách vô tư; người này đặt trong lôgíc của việc “sử dụng” (user) người kia là “thưởng thức” (jouir) để cuối cùng nghiệm ra rằng: người này vẫn chỉ đơn thuần là con người người kia gần với Thượng đế.Hậu quả thứ hai các nghệ thuật thống nhất với nhau trong một phạm trù nhất định nhưng chúng vẫn gắn bó với hoạt động riêng của mình. Thơ ca hội họa âm nhạc chỉ thống nhất với nhau nếu chúng ta đặt trong quan điểm của người tiếp nhận nó thể hiện một thái độ vô tư mà từ trước đến nay người ta gọi là thẩm mĩ. Một thuật ngữ như “văn chương” (belles-lettres) vẫn khiến người ta nghĩ đến hoạt động phi nghệ thuật (vẫn có những tác phẩm không hay). Cũng như đối với từ “beaux-arts” (mĩ thuật) việc người ta liên tưởng đến những ngành mĩ thuật vị lợi hay máy móc vẫn còn rất mạnh. Một khi mà quan niệm mới này được thông qua tính từ “beau” (giống cái là belle có nghĩa là đẹp) trong từ “belles-lettres” và “beaux-arts” không còn cần thiết nữa thuật ngữ trở nên thừa từ bởi vì nghệ thuật bây giờ được định nghĩa như cảm hứng dành cho cái đẹp. Những quyển sách cổ xưa về nghệ thuật chủ yếu được viết ra để chỉ dẫn dành cho nhà thơ họa sĩ hay nhạc sĩ. Từ đó người ta chuyên việc mô tả quá trình nhận thức phân tích về cách phán đoán sở thích thông qua đó người ta đánh giá giá trị thẫm mĩ. Việc dạy văn học ở Pháp đã minh họa sự chuyển biến ấy với 100 năm chậm trễ trong khi đến giữa thế kỉ XIX việc dạy học vẫn xuất phát từ việc dạy Tu từ học (On aprend comment écrire- Người ta dạy viết như thế nào) bắt đầu từ lúc này người ta chuyển sang dạy theo quan điểm lịch sử văn học tức là dạy “cách đọc” (On apprend comment lire. Người ta dạy đọc như thế nào). Hậu quả tức thì: là bị cắt đứt với hoàn cảnh sáng tạo nghệ thuật buộc phải tìm nơi tiêu thụ. Để trưng bày tranh người ta xây dựng những phòng triễn lãm xưởng vẽ các viện bảo tàng: viện bảo tàng Anh ra đời năm 1733 bảo tàng Uffixi và Vatican vào năm 1759 bảo tàng Louvre năm 1791.Lúc đầu việc tập hợp các bức tranh vào một nơi duy nhất nhằm đảm nhận các nhiệm vụ khác nhau trong nhà thờ cung điện nhà của tư nhân; ngày nay công việc ấy chỉ nhằm một mục đích duy nhất: để ngắm nhìn và đánh giá giá trị thẩm mĩ của chúng. Thứ bậc của ý nghĩa và giá trị đã bị đảo lộn: điều mà trước kia mong muốn là giá trị biểu diễn nay trở thành điều cần thiết còn điều mà trước kia cần thiết là giá trị thần học và huyền thoại nay lại là điều không bắt buộc. Phòng triển lãm của viện bảo tàng hay xưởng vẽ trở thành nơi biến một vật bất kì thành một tác phẩm nghệ thuật: để cổ vũ việc nhận thức thẩm mĩ chỉ cần vật này được trưng bày ở đó. Mối liên hệ tự động giữa nơi trưng bày với kiểu nhận thức như thế này dĩ nhiên là rất cần thiết kể từ khi Marcel Duchamp đã đặt bức vẽ Chỗ đi tiểu (Urinoir...) nổi tiếng của mình tại một góc dành cho các tác phẩm nghệ thuật: chỉ với vị trí trưng bày của mình nó đã trở thành một tác phẩm nghệ thuật cho dù quá trình sáng tạo ra nó chẳng giống gì với quá trình tạo ra một bức điêu khắc hay một bức tranh. Nói tóm lại cả hai phong trào này đã làm thay đổi quan niệm về nghệ thuật việc đồng hóa người sáng tạo với Chúa - người đã sáng tạo ra vũ trụ và việc đồng hóa tác phẩm với một vật đơn thuần chỉ để ngắm nhìn đã minh họa cho việc thế tục hóa thế giới dần dần ở châu Âu nhưng cũng góp phần kéo theo sự thiêng liêng hoá mới của nghệ thuật. Lúc ấy nghệ thuật hoá thân thành sự tự do (liberté) quyền tối cao (souveraineté) sự tự tại (autosuffisance) sự siêu việt (transcendance) của người sáng tạo so với thế giới. Phong trào này củng cố cho phong trào kia: trên phương diện chức năng cái đẹp được định nghĩa như một thứ không có mục đích ứng dụng trên phương diện cấu trúc cái đẹp được tổ chức với sự chặt chẽ của một vũ trụ. Việc thiếu mục đích bên ngoài được bù lại bằng vô số những mục đích bên trong tức là mối quan hệ giữa các bộ phận và các yếu tố của tác phẩm. Nhờ vào nghệ thuật cá nhân con người có thể đạt đến sự tuyệt đối. MỸ HỌC THỜI KỲ ÁNH SÁNG(L’esthétique des Lumière)Khi chúng ta chuyển từ quan điểm sáng tạo (perspective de production) sang quan điểm tiếp nhận (perspective de réception) chúng ta đã làm tăng khoảng cách giữa tác phẩm với thế giới mà tác phẩm đề cập đến và tác động nên bởi vì bây giờ người ta muốn tiếp nhận bằng chính tác phẩm và vì tác phẩm. Sự thay đổi này cũng bị ảnh hưởng bởi sự chuyển biến sâu sắc mà xã hội châu Âu đã trải qua vào thời điểm ấy. Người nghệ sĩ dần dần ngừng sáng tạo cho một người bảo trợ đã đặt hàng và viết cho một công chúng mà họ quan tâm tới tác phẩm: xưa nay quần chúng là người nắm giữ sự thành công của tác giả. Cái mà trước đây chỉ dành cho một vài đối tượng thì nay trở thành phổ quát; cái mà trước đây được đặt dưới một thứ bậc nghiêm ngặt đó là Nhà thờ và các thể chế (pouvoir civil) thì giờ đây sự tiếp nhận trở nên bình đẳng.Tư tưởng của các nhà văn thế kỷ Ánh sáng là sự tự chủ cá nhân; nghệ thuật đã chinh phục sự tự chủ cũng tham gia vào cùng một phong trào này. Người nghệ sĩ trở thành sự hóa thân của cá nhân tự do đến lượt mình tác phẩm cũng tự giải phóng.Khi kiên quyết đặt nghệ thuật dưới chuẩn mực (régime) của cái đẹp các nhà tư tưởng của thế kỉ XVIII không tìm cách cắt đứt mối quan hệ của nghệ thuật với thế giới; nghệ thuật đã không trở thành xa lạ với cái chân và cái thiện. Họ đã giải thích theo quan điểm Platon: cái đẹp vật chất chỉ là biểu hiện hời hợt nhất của cái Đẹp (le beau matériel n’est que la manifestation la plus superficielle de la Beauté) nó trở lại với vẻ đẹp tâm hồn có nghĩa là trở lại với vẻ đẹp tuyệt đối vĩnh cửu bao gồm vừa hoạt động thực tiễn của con người đấy là đạo đức; vừa là việc tìm kiếm tri thức đấy là chân lý.Shaftesbury người đầu tiên đã chuyển những thuật ngữ như chiêm ngưỡng (comtemplation) và tự thoả mãn (autosuffisance) của Tôn giáo vào việc mô tả của nghệ thuật vẫn trình bày cái đẹp vật chất như một phương tiện để thấu hiểu được sự hài hòa của thế giới và tiếp cận được tri thức. Vì thế ông ta suy luận rằng: “Cái gì đẹp thì hài hòa tương đối cái gì hài hòa và tương đối thì đúng do đó cái gì vừa đẹp vừa đúng thì thú vị và tốt” (Ce qui est beau est harmonieux et proportionnel. Ce qui est harmonieux et proportionnel est vrai et ce qui est à la fois beau et vrai est par conséquent agréable et bon”. Quá trình nhận thức tác dụng của ý nghĩa không làm vơi cạn đi kinh nghiệm thẩm mỹ nhất là khi nghệ thuật thường được cho là mẫu mực thơ ca không chỉ thuộc về âm thanh và thị giác mà còn đòi hỏi sự huy động của trí tuệ: vẻ đẹp thơ ca dựa trên ý nghĩa của nó và không thể tách rời khỏi chân lý.Các nhà tư tưởng không vì thế mà phản bác lại việc đọc các tác phẩm văn chương như là một bài diễn giải về thế giới mà tìm cách phân biệt hai con đường con đường của nhà thơ và con đường của các nhà khoa học (hay là các triết gia); mỗi con đường có những lợi thế riêng không câu nệ sự cao thấp: cả hai con đường đều dẫn đến cùng một mục đích đó là việc hiểu rõ hơn về con người và thế giới hướng đến một trí tuệ siêu việt hơn. Một trong những người đầu tiên dấn thân vào việc đối chiếu hai loại tri thức này là nhà triết học nhà lịch sử học nhà tu từ học thành phố Naples: Giambattista Vico người đã phân biệt ngôn ngữ lí trí với ngôn ngữ thơ ca. Đúng là ông đã liệt ngôn ngữ thơ ca vào loại ngôn ngữ trong những thời kì đầu của quá trình phát triển loài người. Nhưng ông cũng quan niệm rằng cả hai đã xuất hiện cùng một lúc; cả hai đối lập nhau như cái phổ biến (l’universel) và cái cá thể (le particulier): “Con người không thể vừa là nhà thơ vừa là nhà siêu hình vĩ đại; lí lẽ thơ ca chống lại điều đó. Quả thực trong khi triết lí siêu hình học tách trí tuệ khỏi các giác quan thì thơ ca ngược lại muốn dấn sâu vào điều đó; trong khi siêu hình học được nâng lên cao nhờ ý tưởng phổ quát thì thơ ca lại gắn bó với những trường hợp cá biệt”. Đó là những điều mà Giambattista Vico đã viết trong cuốn Khoa học mới (Science nouvelle) năm 1730. Xác định vị trí của hoạt động nghệ thuật so với hoạt động của triết học cũng là một trong những nhiệm vụ mà Baumgarten đã nêu lên trong cuốn Những suy ngẫm triết học về thơ ca (Méditations philosophiques sur la poésie) xuất bản năm 1735 và trong cuốn Mỹ học (Esthétique) năm 1750. Là đồ đệ của Leibniz ông quan niệm rằng thơ ca như là người sáng tạo ra “một thế giới có thể có” (monde possible) trong số nhiều thế giới khác và ông cũng hợp pháp hóa quan điểm thẩm mĩ: cho rằng ưu tiên việc nhận thức thẫm mĩ quan trọng hơn là việc sáng tạo. Cũng giống như khoa học mĩ học có liên quan đến tri thức nhưng không phải là tri thức thấp kém (điều này trái với điều mà một số công thức đã nêu lên): mỹ học nêu lên “một tri thức tương tự như lí trí” và tạo ra “tri thức nhạy cảm” (connaissance sensible). Loại tri thức này được tất cả mọi người tiếp nhận chứ không chỉ có các nhà triết học nó gợi lên tính cá thể của mỗi vật. Tri thức kéo theo một chân lí khác với chân lí của các môn khoa học. Nó không chỉ được thiết lập giữa các từ với thế giới mà bao hàm cả sự liên đới của những con người sử dụng nó. Cái tên thích hợp dành cho loại tri thức này là “vẻ giống như thực” (vraisemblance) và hiệu ứng của nó “được tạo ra từ sự kết dính bên trong của thế giới mà nó sáng tạo nên”. Sự trừu tượng xâm nhập vào cái tổng quát và làm cho thế giới nhạy cảm bị nghèo nàn đi. Thơ ca thống ngự thế giới của cảm xúc ngay cả khi những kết luận của nó thiếu tính rõ ràng: Cái thơ ca mất đi là độ kịch liệt nó sẽ thắng lại bằng sự sắc sảo (ce qu’elle perd en acuité elle le gagne en vivacité.)Lessing- tác giả lớn của thời kì Ánh sáng người Đức đã dành nhiều tác phẩm để phân tích các phân môn nghệ thuật cũng đã biết kết hợp hai luận điểm này. Một mặt điều làm nên nét đặc thù của tác phẩm nghệ thuật là nó khát khao tạo ra cái đẹp mà cái đẹp được định nghĩa như là sự hài hòa của các yếu tố tạo thành và nó không chịu áp lực nào của một mục đích bên ngoài. Mặt khác tác phẩm tham gia vào một tập hợp rất rộng các hoạt động nhằm mục đích tìm ra sự thật của thế giới và dẫn con người đạt đến sự anh minh. Chính vì thế trong cuốn “Laokoon” (1766) Lessing đã viết: “Tôi muốn người ta dùng cái tên Tác phẩm nghệ thuật để chỉ dành cho các tác phẩm mà người nghệ sỹ muốn tự biểu hiện mình với tư cách là người nghệ sĩ nơi mà cái đẹp là mục đích đầu tiên cũng là mục đích cuối cùng của tác giả. Tất cả các tác phẩm mang dấu vết của các quan niệm tôn giáo đều không xứng đáng với tên gọi này vì nghệ thuật ở đây không được tạo ra vì chính bản thân nó mà đó chỉ là công cụ bổ trợ cho tôn giáo tác phẩm mà trong đó người ta quan tâm đến mặt ý nghĩa hơn là đến cái đẹp của việc miêu tả những biểu hiện nhạy cảm do nó mang lại”. Quá trình này chứa đựng công thức “Nghệ thuật vì chính nó” (l’art pour lui - même) và có lẽ là nguồn gốc của khái niệm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” (L’art pour l’art). Lessing đã xác định việc đáp ứng những đòi hỏi của cái đẹp như là một nét đặc thù của nghệ thuật. Nhưng không vì thế mà ông bác bỏ việc đưa nghệ thuật vào hàng những hoạt động biểu hiện. Ông đã viết: “Việc bắt chước là thuộc tính nghệ thuật cơ bản của nhà thơ” thậm chí ông còn xác định hội họa như một nghệ thuật mô phỏng trong không gian còn thơ ca là mô phỏng về mặt thời gian. Cũng như thế trong cuốn Dramaturgie de Hambourg (1767) Lessing đã so sánh công việc của nhà văn với công việc của một Đấng tạo hóa sáng tạo ra một thế giới chặt chẽ nhưng độc lập: một thế giới mà các hiện tượng liên hệ với nhau theo một trật tự khác nhưng không kém chặt chẽ một trật tự mà các tình tiết của hành động nảy sinh một cách tất yếu từ các nhân vật mà niềm đam mê của mỗi con người tương ứng hoàn toàn với tính cách của họ. Theo hướng đó tác phẩm thoát khỏi tác giả của nó như thể tác giả đã viết dưới sự xui khiến của các nhân vật: chân lí của họ nằm trong chính sự chặt chẽ của trật tự đó. Tuy nhiên Lessing không hề có xu hướng tìm thấy trong tác phẩm một trò chơi cấu trúc mang sẵn trong mình cái cứu cánh cuối của chính tác phẩm: “Viết và bắt chước có chủ đích là điều phân biệt người nghệ sĩ thiên tài với người nghệ sĩ tầm thường viết chỉ để viết bắt chước chỉ để bắt chước bằng lòng với niềm vui nho nhỏ gắn với việc sử dụng các phương tiện của họ và biến các phương tiện này thành mục đích của mình”. Việc băn khăn trước hết đến cái đẹp là điều phân biệt nghệ thuật với phi nghệ thuật nhưng bằng lòng với mục đích này hay khát khao một mục đích cao hơn là điều phân biệt nghệ thuật tầm thường và nghệ thuật cao cả người thợ thủ công với một kẻ thiên tài: “Không có gì vĩ đại trong những cái không thật” (Rien n’est grand de ce qui n’est pas vrai).Chính vì vậy sau khi đã cẩn thận nhắc lại rằng: “Chân lý của thơ ca không phải chân lý của khoa học nhưng gần với cái nguyên tắc giống như thật của Aristote Lessing đã ca ngợi các tác giả mà mình yêu thích chính là ở chỗ họ mở đường cho ông đạt được chân lý. Điều khiến Shakespeare trở thành một nhà viết kịch nổi tiếng là vì ông có “một cái nhìn sâu sắc về bản chất của tình yêu”: Tác phẩm Othello là “một cuốn sách hoàn hảo về sự cuồng nhiệt đáng buồn sự nghen tuông”. Điều mà Euripide học được ở Socrate không phải là một học thuyết triết học hay là những châm ngôn đạo đức mà là nghệ thuật: “Hiểu người và hiểu mình; chú ý đến những cảm giác của bản thân tìm kiếm và yêu thích mọi sự trong những con đường tự nhiên và gần gũi nhất dẫn đến bản chất phán xét một hiện tượng dựa trên mục đích của nó”. Chính vì lẽ đó mà đến lượt mình Euripide đã viết những vỡ bi kịch bất hủ.Toàn bộ những quan niệm trên sử dụng và tập hợp lại trong cuốn: Phê bình về khả năng phán đoán thẩm mỹ (Critique de la faculté de juger) của Kant (1970). Cuốn sách đã ảnh hưởng đến tư duy hiện đại về nghệ thuật bằng cách vẫn duy trì hai quan điểm song song: cái đẹp vừa là vô tư nhưng đồng thời nó cũng là biểu tượng mang giá trị đạo đức. Cái đẹp không thể được thiết lập một cách khách quan bởi vì nó xuất phát từ sự phán đoán của thị hiếu thẩm mỹ và vì vậy nó nằm trong sự chủ quan của độc giả hay khán giả; nhưng cái đẹp có thể được nhận thấy qua sự hài hòa các yếu tố trong tác phẩm và có thể là đối tượng được mọi người nhất trí thừa nhận.Người ta thấy một bằng chứng cho sự tác động tức thì của những quan niệm trên qua nhật kí của Benjamin Constant người đã cùng với Germanie de Stael ở lại Weimar vào đầu năm 1804. Vào ngày mười một tháng hai ông ta đã ghi: “Ăn tối cùng Robinson học trò của Shelling công việc của anh ta là nghiên cứu mĩ học của Kant. Ý tưởng rất tinh vi. Nghệ thuật vì nghệ thuật và phi mục đích mọi mục đích đều làm mất đi bản chất của nghệ thuật. Nhưng nghệ thuật đạt đến mục đích mà nó không có”. Đó là lần đầu tiên xuất hiện bằng tiếng Pháp cụm từ “Nghệ thuật vị nghệ thuật” (l’art pour l’art) nhưng người ta phải có sự phân biệt các loại “mục đích”: mục đích mà người nghệ sĩ đã đề ra trước tiên với ý định minh họa cho tác phẩm (tức là mục đích giáo dục của tôn giáo mà Lessing đã phản bác ở trên) với mục đích nội tại gắn liền với tác phẩm nghệ thuật đặc biệt là các tác phẩm vĩ đại (tác phẩm của các thiên tài mà theo Lessing chúng đối lập với tác phẩm của các nghệ sỹ tầm thường). Một phần tư thế kỉ sau khi viết về bi kịch Constant đã xác định rõ tư tưởng của mình: “Niềm đam mê thấm nhuần triết lí nhằm để phát triển những tư tưởng triết học là một điều nghịch lý đối với người nghệ sĩ” nhưng điều đó không có nghĩa là tác phẩm không tác động đến tri thức của độc giả: “Việc nâng cao tri thức không phải là mục đích của bức tranh mà là tác dụng của bức tranh”.Constant là người phản đối mục đích giáo dục bằng văn chương nhưng không vì vậy mà tách văn chương ra khỏi thế giới: người ta không cần phải chọn lựa giữa hai thái cực này. Ông ta đặt nghề viết văn vào vị trí trung tâm mọi nghề sử dụng chữ nghĩa khác như đã viết ở trang dưới đây vào năm 1807: “Văn chương gắn liền với tất cả các lĩnh vực. Nó không thể tách rời khỏi chính trị tôn giáo đạo đức. Nó là thông điệp gởi gắm quan điểm của con người về mỗi sự vật. Như mọi vật thiên nhiên nó vừa là hậu quả vừa là nguyên nhân. Miêu tả thiên nhiên như một hiện tượng cô lập thì đó không phải là miêu tả thiên nhiên nữa”.Do đó không có cái “thơ ca thuần túy” (poésie pure) mọi thứ thơ ca tất yếu đều phải “không thuần túy” (impure) vì nó cần có những ý tưởng và những giá trị mà những ý tưởng và giá trị này thơ ca không tự chiếm hữu. Constant vẫn rất trung thành với quan điểm của người bạn mình - Germanie de Stael người đã xuất bản một tác phẩm có tên gọi rất ý nghĩa Bàn về văn chương - trong mối quan hệ với các thể chế xã hội (De la littérature considérée dans ses rapports avec les institutions sociales) vào năm 1800. Bà đã hiểu khái niệm Văn chương trong ý nghĩa rộng nhất của nó bao gồm cả những tác phẩm triết học tác phẩm hư cấu tất cả những gì liên quan đến việc rèn luyện tư tưởng ngoại trừ các ngành khoa học tự nhiên. Văn học hư cấu bằng tưởng tượng và những bài học triết học và khoa học được phân biệt với nhau nhưng vẫn nằm trong một thể loại chung; cả hai loại đều phụ thuộc vào thế giới và tác động đến thế giới góp phần tạo nên một xã hội tưởng tượng trong đó đã sống bởi tác giả của quá khứ và sẽ sống bởi độc giả trong tươnglai.
 Paris 15-8 Huế 30-12
TRẦN HUYỀN SÂM và ĐAN THANH
dịch từ nguyên bản tiếng Pháp: La littérature en péril Édition Flammarion Paris 2007.















More...